Hội Điện Quang & Y học hạt nhân Việt Nam


Warning: Invalid argument supplied for foreach() in /home/chitc/public_html/components/com_joomfish/helpers/joomfish.class.php on line 136
English (United Kingdom)Tiếng Việt (Vietnamese)
Trang chủ Báo cáo khoa học Y học hạt nhân

Y học hạt nhân

Tương quan giữa định lượng Tg và WBS I-131 trong theo dõi K tuyến giáp biệt hóa

Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa (Differentiated Thyroid Carcinoma, DTC) bao gồm ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang chiếm hơn 90% các bệnh nhân ung thư tuyến giáp. Thể bệnh này có nguy cơ cao xuất hiện di căn hạch, phổi, xương, não…và tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị thích hợp. Tuy nhiên, do các đặc điểm về sinh bệnh học và khả năng đáp ứng tốt với NaI (I-131), bệnh nhân có tiên lượng khả quan nếu phát hiện sớm và điều trị đúng.

Đọc thêm...
 

Siêu âm theo dõi hiệu quả giảm thể tích tuyến giáp của I-131 trong Basedow

Basedow là một bệnh cường năng tuyến giáp kết hợp với bướu giáp quá sản phì đại, là bệnh nội tiết hay gặp. Hiện nay có 3 phương pháp điều trị: điều trị nội khoa bằng thuốc kháng giáp tổng hợp, điều trị ngoại khoa bằng cắt một phần tuyến giáp và điều trị bằng 131I. Việc điều trị bằng 131I từ lâu đã chứng tỏ tính hiệu quả, an toàn của nó. Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đã kết luận: “Đây là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả, kinh tế, dễ thực hiện”. 
Đọc thêm...
 

Giá trị tiên lượng của SPECT tưới máu cơ tim trong bệnh động mạch vành

Bệnh động mạch vành (ĐMV) là tình trạng các mảng vữa xơ phát triển trong lòng ĐMV gây hẹp và làm mất cân bằng giữa khả năng cung cấp và nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ tim dẫn đến các biểu hiện lâm sàng như: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, đột tử do bệnh ĐMV … Bệnh ĐMV khá thường gặp và có tỷ lệ tử vong cao.Ở châu Âu, tỷ lệ mắc bệnh ĐMV khoảng 3 – 5 % dân số và tỷ lệ tử vong do bệnh ĐMV chiếm 17 – 30% số trường hợp tử vong hàng năm.
Đọc thêm...
 

Đối chiếu kết quả xạ hình tưới máu cơ tim với chụp động mạch vành

Bệnh động mạch vành (ĐMV) hay là một trong những nguyên nhân gây tai biến và tử vong hàng đầu ở các nước phát triển cũng như ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, các ứng dụng của y học hạt nhân đã có những tiến bộ vượt bậc và được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tim mạch, trở thành chuyên ngành tim mạch hạt nhân (Nuclear Cardiology) và chiếm tới 20 – 30% tổng số lượng xét nghiệm y học hạt nhân.

Đọc thêm...
 

Đánh giá liều hiệu dụng trong PET-CT

Liều bức xạ trên bệnh nhân đang là một mối qua tâm trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh y khoa ứng dụng năng lượng bức xạ. 15 năm qua cho thấy một sự chuyển mình của ứng dụng PET từ lĩnh vực nghiên cứu sang các ứng dụng trên lâm sàng, đặc biệt là lĩnh vực ung thư. Hình ảnh PET trong lĩnh vực ung thư dựa vào sự tăng mức độ chuyển hóa glucose của các tế bào ung thư mà sự tăng mức độ chuyển hóa này lại liên quan đến 1 đặc tính sinh hóa của tế bào ác tính: tốc độ chuyển hóa glucose tăng là do tăng số lượng các protein vận chuyển glucose trên bề mặt tế bào và tăng nồng độ men hexokinase nội bào.

Đọc thêm...
 

Đặc điểm và hiệu quả tấm áp P32 trong điều trị u mao mạch trẻ em

U mao mạch nông là bệnh tăng sinh mao mạch ở trung bì và hạ bì, gồm giãn mạch đơn thuần hoặc tăng sinh mạch máu. Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh thường gặp ở trẻ em hơn người lớn (5-10% ở trẻ dưới 1 tuổi), trẻ gái nhiều hơn trẻ trai, vị trí ở đầu, mặt, cổ hay gặp hơn các vị trí khác (chiếm 50-60%). Bệnh thường tiến triển lành tính, ít khi tự khỏi. Có thể gây biến chứng loét, nhiễm khuẩn, chảy máu. U mao mạch có thể gây chèn ép hay ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan khác và để lại sẹo xấu.

Đọc thêm...
 

Những vấn đề cập nhật ứng dụng PET-CT trong ung thư

Kể từ khi ra đời cho đến hiện nay, các ứng dụng của phương pháp chụp cắt lớp positron (Positron Emission Tomograpgy – PET) đã trải qua lịch sử phát triển trên 30 năm. Từ giữa những năm 1970, PET bắt đầu được sử dụng nghiên cứu trong các bệnh thần kinh và tim mạch. Hơn một thập kỷ sau, các nhà nghiên cứu nhận thấy PET còn là một công cụ chẩn đoán rất có giá trị trong ung thư. Khác với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh cấu trúc, giải phẫu như chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography – CT) hay cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging - MRI), PET ghi lại hình ảnh định tính và định lượng quá trình sinh - bệnh lý và chuyển hóa của các bệnh lý thông qua dược chất phóng xạ (DCPX) được đánh dấu.
Đọc thêm...
 


Get the Flash Player to see this player.

ẢNH ĐẸP

011432
Hôm nayHôm nay94
Hôm quaHôm qua95
Tuần nàyTuần này94
Tháng nàyTháng này624
Toàn bộToàn bộ11432