• Chủ nhật, 26/06/2022
  • (GMT+7)

Giá trị của CLVT hai mức năng lượng trong tiên lượng nguy cơ chảy máu não sau lấy huyết khối cơ học

SUMMARY

Purpose: Evaluate the characteristics of Dual-energy CT of the brain performed after mechanical thrombectomy. Acess the capability of iodine extravasation quantification on DECT to predict hemorrhagic complications.

Material and methods: Retrospective descriptive study. Thirty consecutive patients who underwent brain dual-energy CT right after mechanical thrombectomy for acute ischemic stroke between July 2019 and September 2020 in Radiology Center, Bach Mai hospital, were included. Maximum iodine concentration was measured. Follow-up CT or MRI examinations performed at 24hrs after intervention were reviewed for intracerebral hemorrhage development. The correlation between dualenergy CT parameters and intracerebral hemorrhage development was analyzed by the Mann-Whitney U test and Fisher exact test. Receiver operating characteristic curves were generated for continuous variables.

Result: Nineteen of 30 patients (63.3%) developed hemorrhage in different grades. On postoperative dual-energy CT, parenchymal hyperdensities and iodine extravasation were present in 19 (100%) of the 19 patients who developed intracerebral hemorrhage and in 7 (63.6%) of the 11 patients who did not (P = 0.0012). Signs of bleeding were present in 5 (45.4%) of the 19 patients who developed intracerebral hemorrhage and in none of the patients who did not. Median density of contrast extravasation in hemorrhage and non-hemorrhage is 108.8HU and 33.6HU (P=0.001). Median maximum iodine concentration was 2.9 mg/mL in the patients who developed intracerebral hemorrhage and 0.59 mg/mL in the patients who did not (P = 0.003). Maximum iodine concentration showed an area under the curve of 0.9 for identifying patients developing intracerebral hemorrhage.

Conclusion: DECT helps differentiating haemorrhage from contrast extravasation. The presence of parenchymal hyperdensity with a maximum iodine concentration of >1.1 mg/mL may identify patients developing intracerebral hemorrhage with 94.7% sensitivity and 81.8% specificity.

Key words: Dual – energy CT, thrombectomy, iodine extravasation.

TÓM TẮT

Mục đích: Mô tả đặc điểm hình ảnh CLVT hai mức năng lượng (DECT) sọ não của bệnh nhân sau lấy huyết khối cơ học điều trị nhồi máu não cấp. Đánh giá giá trị của DECT trong việc tiên lượng chảy máu chuyển dạng sau lấy huyết khối.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả hồi cứu. Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 7/2019 đến hết tháng 9/2020 trên 30 bệnh nhân chụp DECT sọ não ngay sau lấy huyết khối cơ học điều trị đột quỵ do tắc mạch lớn tại trung tâm Điện Quang, Bệnh Viện Bạch Mai. Nồng độ I ốt tối đa thoát quản được thu thập. Bệnh nhân được chụp CT hoặc CHT trong vòng 24h để đánh giá tình trạng chảy máu. Mối liên quan giữa các thông số trên DECT với biến chứng chảy máu được đánh giá bằng các test thống kê: Fisher exact test, Mann-Whitney U test. Đường cong ROC được lập ra để đánh giá các biến liên tục.

Kết quả: Trong tổng số 30 bệnh nhân chụp sau can thiệp có 19 (63.3%) ca có chuyển dạng chảy máu ở cấp độ từ HI1 đến PH2, 11 ca không chảy máu (36.7%). 26/30 ca có tăng tỷ trọng tự nhiên trên ảnh 120kV. 19/19 (100%) ca chảy máu có tăng tỷ trọng tự nhiên, 7 trong số 11 (63.6%) ca không chảy máu có tăng tỷ trọng tự nhiên (P = 0.0012). 5/19 chảy máu có triệu chứng (45.4%), 0/11 ca không chảy máu có triệu chứng. Tỷ trọng trung bình thuốc cản quang thoát quản của nhóm có chảy máu là 108.8HU còn nhóm không chảy máu là 33.6HU (p=0.001). Nồng độ i ốt tối đa của nhóm chảy máu là 2.9mg/ml, của nhóm không chảy máu là 0.59mg/ml (p=0.003). Nồng độ i ốt tối đa có diện tích dưới đường cong ROC là 0.9, nồng độ i ốt tối đa trên 1.1mg/ml có thể dự đoán bệnh nhân chuyển dạng chảy máu với độ nhạy 94.7% và độ đặc hiệu 81.8%.

Kết luận: CLVT hai mức năng lượng sau lấy huyết khối cơ học giúp phân biệt chảy máu và thoát thuốc cản quang, định lượng được nồng độ I ốt tối đa (MIC) từ đó tiên lượng được nguy cơ chảy máu chuyển dạng sau lấy huyết khối cơ học.

Tác giả: Vũ Thị Thanh*, Phạm Minh Thông*, Vũ Đăng Lưu*, Trần Anh Tuấn*, Lê Hoàng Kiên*, Nguyễn Quang Anh*, Nguyễn Tất Thiện*, Nguyễn Hữu An*

Địa chỉ: * Trung tâm Điện Quang, Bệnh viện Bạch Mai

( Theo tạp chí Điện Quang Việt Nam số 41 - 12/2020)

(0)

Đăng nhập | Đăng ký

Bình luận

Đang tải dữ liệu loading
Box 1 box 2 Box 3 Box 4 Box 5 Box 6 Box 7

Đơn vị hợp tác