• Thứ 5, 09/04/2020
  • (GMT+7)
Đánh giá kết quả điều trị dị dạng động - tĩnh mạch não dã vỡ ở trẻ em bằng nút mạch onyx

Đánh giá kết quả điều trị dị dạng động - tĩnh mạch não dã vỡ ở trẻ em bằng nút mạch onyx

03/17/2020 16:14:01 | 0 binh luận

Đột quỵ ở trẻ em thường hiếm gặp, trong đó nguyên nhân gây chảy máu nội sọ tự phát ở trẻ em thường do vỡ AVM. Chiếm khoảng 12% – 21% số ca có dị dạng động tĩnh mạch não [1], chảy máu sẽ gây nên tỉ lệ tử vong, di chứng thần kinh ở nhiều bệnh nhân. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh, vị trí, hình thái học của tổn thương ở trẻ em khác với người lớn, trong đó, chảy máu não tự phát do vỡ AVM ở trẻ em cao hơn người lớn, đặc biệt nguy cơ chảy máu cao với các ổ tổn thương AVM nhỏ, tĩnh mạch dẫn lưu đơn độc, vị trí ổ dị dạng quanh não thất, dưới lều và các tổn thương phối hợp như hẹp tĩnh mạch dẫn lưu, phình cuống mạch nuôi hoặc nidus [1]. Ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu điều trị DDĐTMN bằng nút mạch ở người lớn, tuy nhiên, số báo cáo về các trường hợp ở trẻ em vẫn còn hạn chế. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu 45 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị AVM não đã vỡ ở trẻ em tại Bệnh Viện Nhi Trung Ương. Chúng tôi phân tích đặc điểm lâm sàng, hình ảnh và đánh giá kết quả điều trị sớm AVM não bằng phương pháp nút mạch với Onyx.
Đánh giá hiệu quả điều trị trung hạn suy tĩnh mạch mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch

Đánh giá hiệu quả điều trị trung hạn suy tĩnh mạch mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch

03/17/2020 16:18:24 | 0 binh luận

Suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT) là bệnh lý tiến triển chậm gây ra do sự suy giảm từ từ chức năng của van trong lòng các tĩnh mạch ở chi dưới, kèm theo sự giảm trương lực thành mạch dẫn tới giãn rộng không hồi phục các tĩnh mạch nông dưới da, gây ra tình trạng thoát dịch vào khoảng gian bào ngoài mạch máu, tạo nên phổ biểu hiện lâm sàng đa dạng từ không triệu chứng đến mỏi chân, tê bì, các mạch máu nhỏ giãn đến các mạch máu giãn lớn ngoằn ngoèo, phù nặng chân, gây rối loạn cảm giác, ngứa hoặc chàm cẳng chân, loét… khiến bệnh dễ nhầm lẫn với các bệnh lý với nhiều bệnh lý nội khoa khác như da liễu, thận, tim… Do đó bệnh thường bị che lấp hoặc bị bỏ qua cho đến khi muộn, ảnh hưởng đến khả năng đi lại, sinh hoạt hằng ngày và chất lượng cuộc sống. Điều trị suy tĩnh mạch bao gồm điều trị nội khoa bảo tồn và can thiệp phẫu thuật. Việc lựa chọn phương pháp điều trị suy tĩnh mạch không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng và giai đoạn bệnh mà còn bản thân người bệnh. Các hiệp hội về tĩnh mạch trên thế giới đã thay đổi ưu tiên lựa chọn phương pháp can thiệp nội mạch hơn phẫu thuật với các trường hợp suy tĩnh mạch mạn tính từ giai đoạn 2 (theo CEAP) trở lên (bằng chứng y học phân loại 1B). Ở Việt Nam, các trung tâm tim mạch lớn đều đã bắt đầu triển khai can thiệp nội mạch thay thế phẫu thuật thắt cao và lột bỏ tĩnh mạch để điều trị cho bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính có triệu chứng, trong đó phải kể đến trung tâm điện quang của bệnh viện (BV) Bạch Mai. Cho đến nay chỉ mới có một số báo cáo về hiệu quả điều trị về phương pháp này tại Việt Nam với các bước sóng thấp. Do vậy nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả theo dõi 12 tháng sau điều trị suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới bằng phương pháp can thiệp nội mạch.
Bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp đốt sóng cao tần nhân lành tính tuyến giáp có triệu chứng

Bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp đốt sóng cao tần nhân lành tính tuyến giáp có triệu chứng

03/17/2020 16:32:47 | 0 binh luận

Bướu giáp nhân là bệnh lý nội tiết thường gặp thứ hai sau bệnh đái tháo đường. Tần suất bướu giáp nhân phát hiện trên siêu âm khoảng 19–67% , trong đó hơn 90% là bướu nhân lành tính [1]. Đa số bệnh nhân bị bướu giáp nhân không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ, một số ít bệnh nhân có bướu giáp lớn có thể có các triệu chứng chèn ép như đau, nuốt khó, khó thở, khàn tiếng. Lựa chọn điều trị bướu giáp nhân tùy thuộc vào nguy cơ ung thư, triệu chứng chèn ép và nhân giáp có tăng chức năng hay không. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bướu nhân tuyến giáp: nội khoa (làm giảm kích thước nhân tuy nhiên có nguy cơ rung nhĩ, giảm mật độ xương); phẫu thuật (khi nhân có ĐK > 4cm, gây triệu chứng chèn ép hoặc mất thẩm mỹ tuy nhiên có biến chứng suy cận giáp, tổn thương dây quặt ngược, suy giáp).. Từ năm 2002, phương pháp đốt sóng cao tần (RFA) nhân lành tính tuyến giáp được GS. Baek – Hàn Quốc nghiên cứu áp dụng thành công và ngày càng được phổ biến ở các nước trên thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan..), với ưu điểm xâm lấn tối thiểu, không để lại sẹo, ít biến chứng.

Từ T10/2016 đến T3/2017 Bệnh viện Bạch Mai là một trong những bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam áp dụng thành công phương pháp RFA nhân lành tính tuyến giáp có triệu chứng, bước đầu ghi nhận được những kết quả hết sức khả quan.

Đánh giá kết quả điều trị nút mạch hóa dầu kết hợp truyền CISPLATIN trong ung thư gan có huyết khối tĩnh mạch cửa

Đánh giá kết quả điều trị nút mạch hóa dầu kết hợp truyền CISPLATIN trong ung thư gan có huyết khối tĩnh mạch cửa

03/17/2020 16:39:48 | 0 binh luận

Ung thư biểu mô tế bào gan là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng thứ 3 trên thế giới [1]. Xâm lấn tĩnh mạch cửa trong ung thư biểu mô tế bào gan thường gặp ở giai đoạn tiến triển và có tiên lượng rất xấu, thời gian sống thêm chỉ từ 2,7-4 tháng [2], [3]. Huyết khối tĩnh mạch cửa liên quan đến chức năng gan kém, sự xâm lấn của khối u, kém đáp ứng với hóa chất và các nguy cơ do tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở các bệnh nhân ung thư gan, do đó chỉ định của các phương pháp điều trị khá hạn chế. Theo hướng dẫn điều trị ung thư gan của Bộ Y Tế, BN ung thư gan có huyết khối tĩnh mạch cửa ít nhất thuộc phân loại Barcelona C, điều trị sorafenid. Theo BCLC, EASL, APASL huyết khối tĩnh mạch cửa là chống chỉ định của phẫu thuật cắt gan và nút mạch hóa chất qua đường động mạch gan (TACE), chỉ còn sorafenid là phương pháp điều trị được khuyến cáo [4], [5], [6]. Tuy nhiên theo nhiều nghiên cứu và báo cáo trên thế giới, các phương pháp điều trị như nút mạch gan bằng hóa chất (TACE), truyền hóa chất qua đường động mạch gan cũng có độ an toàn và hiệu quả, giúp cải thiện thời gian sống thêm [7], [8]. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên 24 bệnh nhân ung thư gan giai đoạn tiến triển có huyết khối tĩnh mạch cửa, điều trị bằng nút mạch hóa dầu kết hợp truyền Cisplatin với mục đích đánh giá mức độ an toàn và thời gian sống thêm.
Đánh giá kết quả điều trị tiêm xơ dị dạng tĩnh mạch dưới hướng dẫn DSA

Đánh giá kết quả điều trị tiêm xơ dị dạng tĩnh mạch dưới hướng dẫn DSA

03/17/2020 16:57:22 | 0 binh luận

Dị dạng tĩnh mạch là một loại dị dạng mạch máu hay gặp.Một dị dạng tĩnh mạch được định nghĩa là dị dạng đơn thuần có dòng chảy thấp và mạng lưới tĩnh mạch bất thường, không có van [1]. Dị dạng tĩnh mạch xuất hiện từ thời kỳ sơ sinh do sự phát triển bất thường từ thời kỳ bào thai và các triệu chứng phụ thuộc vào kích thước và vị trí liên quan. Màu sắc da phụ thuộc vào độ sâu của tổn thương, từ không có màu tới màu tím [2]. Tiến triển tự nhiên thường tăng kích thước chậm và khá ổn định theo thời gian, hình thái và kích thước thay đổi theo tư thế, chèn ép vào các cơ quan lân cận gây đau và hạn chế vận động. Dị dạng tĩnh mạch có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, nhưng chủ yếu ở trong các mô mềm.Trong thập kỷ vừa qua, các chuyên gia về tĩnh mạch trên thế giới đã có những thống nhất về phân loại và chẩn đoán bằng siêu âm và cộng hưởng từ, tuy nhiên chỉ định và hiệu quả điều trị còn nhiều tranh cãi, trong đó quan trọng nhất là phương pháp tiêm xơ. Chỉ định điều trị có thể đặt ra khi có ảnh hưởng đến chức năng hoặc ảnh hưởng thẩm mỹ [3].

Tiêm xơ là phương pháp tiêm một chất gây kích ứng, là phương pháp đầu tay cho điều trị dị dạng tĩnh mạch, trong đó, cồn tuyệt đối là chất được sử dụng phổ biến trong tiêm xơ qua da. Các biến chứng tại chỗ như hoại tử da loét hay tổn thương thần kinh cũng được nhắc đến.Từ sau khi sử dụng polidocanol (Lauromacron 400), các dị dạng tĩnh mạch được điều trị nhiều hơn, giảm thiểu các biến chứng [3]. Cùng với sự phát triển của chụp mạch số hoá xoá nền và phân loại dị dạng tĩnh mạch của Puig năm 2003 [4], càng ngày càng có nhiều báo cáo trên thế giới đánh giá hiệu quả của phương pháp tiêm xơ dưới hướng dẫn máy chụp mạch. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện chưa có báo cáo nào về phương pháp điều trị này. Do vậy, báo cáo này được thực hiện nhằm mục đích mô tả các đặc điểm về hình ảnh chụp mạch của các dị dạng tĩnh mạch và kết quả điều trị bằng phương pháp tiêm xơ tại trung tâm điện quang, bệnh viện Bạch Mai.

Nghiên cứu vai trò của kỹ thuật dán nhãn spin động mạch (ASL) trong phân độ mô học u sao bào

Nghiên cứu vai trò của kỹ thuật dán nhãn spin động mạch (ASL) trong phân độ mô học u sao bào

12/04/2019 20:37:43 | 0 binh luận

sao bào là loại u não trong trục thường gặp. Mặc dầu có nhiều tiến bộ trong điều trị song tiên lượng u còn xấu, đặc biệt là u có độ ác tính cao. Điều trị, tiên lượng phụ thuộc vào chẩn đoán độ mô học. Giá trị lưu lượng tưới máu não tương đối (rCBF) trên cộng hưởng từ tưới máu là thông số quan trọng trong dự báo độ mô học. rCBF có thể cung cấp thông tin về tăng sinh mạch máu trong u, từ đó đánh giá gián tiếp phân độ mô họccủa u
Điều trị phình động mạch não vỡ sau chấn thương bằng can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Điều trị phình động mạch não vỡ sau chấn thương bằng can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Chợ Rẫy

12/04/2019 21:40:31 | 0 binh luận

Phình động mạch não do chấn thương rất ít gặp, chỉ chiếm khoảng 1% phình mạch não nói chung, thường đi kèm với chấn thương vùng đầu mặt và hay gặp ở trẻ em, vị thành niên. Tổn thương thành mạch máu não trong chấn thương sẽ gây ra xuất huyết dưới nhện xuất huyết não, hay gây ra huyết khối tắc mạch, bóc tách hay phình mạch não. Phình mạch não chấn thương có 4 loại: phình thật, phình giả, hỗn hợp vừa phình thật và giả và bóc tách
Giá trị của cộng hưởng từ phổ và cộng hưởng từ tưới máu trong chẩn đoán phân bậc u sao bào

Giá trị của cộng hưởng từ phổ và cộng hưởng từ tưới máu trong chẩn đoán phân bậc u sao bào

12/05/2019 09:27:25 | 0 binh luận

U sao bào là một loại u não thường gặp, xuất phát từ các tế bào thần kinh đệm hình sao và chiếm khoảng 60% các u thần kinh đệm [1]. U sao bào được chia làm 4 độ mô học theo WHO [2] và 2 nhóm mô học là nhóm u bậc thấp và nhóm u bậc cao. Do có sự khác biệt trong điều trị và tiên lượng của nhóm u bậc thấp và u bậc cao nên chẩn đoán phân bậc u sao bào trở nên rất quan trọng. Tiêu chuẩn vàng để phân bậc u sao bào là kết quả giải phẫu bệnh của các mẫu bệnh phẩm được lấy bằng các phương pháp xâm nhập như sinh thiết hoặc phẫu thuật. Nhưng bên cạnh đó, hiện nay cũng có các phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm nhập góp phần vào chẩn đoán phân bậc u sao bào như CHT phổ và tưới máu
đăng ký miễn phí

Sự kiện sắp diễn ra

H2

Đơn vị hợp tác