• Thứ 5, 09/04/2020
  • (GMT+7)
Bước đầu đánh giá kết quả điều trị di căn phổi bằng đốt sóng cao tần tại bệnh viện Việt Đức

Bước đầu đánh giá kết quả điều trị di căn phổi bằng đốt sóng cao tần tại bệnh viện Việt Đức

03/17/2020 09:49:03 | 0 binh luận

.Đốt sóng cao tần (Radiofrequency ablation-RFA) phổi được tiến hành lần đầu tiên bởi Dupuy và cộng sự vào năm 2000. Đây là phương pháp điều trị mới thay thế cho phẫu thuật hoặc xạ trị đối với bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát và thứ phát không còn chỉ định phẫu thuật hoặc còn khả năng phẫu thuật nhưng có những bệnh lý khác cản trở phẫu thuật hoặc không đồng ý phẫu thuật. RFA cũng có thể là một phần trong điều trị đa phương thức đối với những trường hợp ung thư phổi nguyên phát hoặc thứ phát ở giai đoạn tiến triển (2). Trong bài viết, chúng tôi thống kê và đánh giá bước đầu hiệu quả của RFA đối với bệnh nhân di căn phổi.

Theo nghiên cứu này chúng tôi đưa ra kết luận như sau: RFA là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị di căn phổi, ít biến chứng, nhất là khi sử dụng các kỹ thuật bổ trợ như gây tràn khí màng phổi chủ động và phần mềm Fluoro CT

Vai trò của cộng hưởng từ ngấm thuốc muộn trong tiên lượng khả năng phục hồi chức năng thất trái sau tái tưới máu cơ tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

Vai trò của cộng hưởng từ ngấm thuốc muộn trong tiên lượng khả năng phục hồi chức năng thất trái sau tái tưới máu cơ tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

03/17/2020 15:56:04 | 0 binh luận

Nhồi máu cơ tim cấp là một tình trạng bệnh lý của ĐMV gây ra bởi sự xơ vữa làm hẹp lòng ĐMV dẫn đến giảm tưới máu cơ tim, gây mất mất cân bằng giữa cung cấp và nhu cầu oxy cơ tim. Đây là loại bệnh khá thường gặp ở những nước phát triển và có xu hướng gia tăng ở những nước đang phát triển, là nguyên nhân chính gây tử vong cho các bệnh nhân tim mạch [1]. CHT tim có hướng dẫn của điện tâm đồ cho phép đánh giá động học và chức năng tim qua các thì tâm trương và tâm thu, đặc biệt là sự vận động thành thất. Chẩn đoán bệnh nhân có thiếu máu cơ tim là cần thiết nhưng việc xác định vùng cơ tim nào còn sống là điều quan trọng. Vùng cơ tim mất chức năng nhưng vẫn còn sống sẽ có khả năng hồi phục sức co bóp sau khi được tái tưới máu đầy đủ. Vùng sẹo cơ tim là vùng không còn mô sống sót và không có lợi gì khi được tái thông đồng thời lại còn làm tăng tỷ lệ tai biến sau can thiệp [2],[3],[4],[5]. Do đó, xác định tính sống còn cơ tim sẽ giúp quyết định bệnh nhân nào cần tái thông mạch vành. CHT tim giúp xác định vùng hoại tử ngấm thuốc muộn, mức độ xuyên thành của vùng ngấm thuốc, tắc nghẽn vi mạch kèm theo trên CHT ngấm thuốc muộn (delayed enhancement). Nhiều nghiên cứu trên thế giới kết luận mức độ xuyên thành của nhồi máu tỷ lệ nghịch với khả năng hồi phục vận động sau tái tưới máu cơ tim ở BN NMCT cấp, mức độ xuyên thành càng cao thì khả năng hồi phục vận động càng giảm [4],[5]. CHT tim ngấm thuốc muộn giúp tiên lượng điều trị ở các BN NMCT cấp sau can thiệp tái tưới máu [7], [8]. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Vai trò cộng hưởng từ tim ngấm thuốc muộn trong tiên lượng khả năng phục hồi chức năng thất trái sau tái tưới máu cơ tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp” với hai mục tiêu sau: 1. Đánh giá các đặc điểm hình thái và chức năng thất trái trước và sau can thiệp. 2. Đánh giá liên quan giữa ngấm thuốc muộn trên CHT cơ bản với sự cải thiện chức năng thất trái sau can thiệp.
Đánh giá kết quả điều trị dị dạng động - tĩnh mạch não dã vỡ ở trẻ em bằng nút mạch onyx

Đánh giá kết quả điều trị dị dạng động - tĩnh mạch não dã vỡ ở trẻ em bằng nút mạch onyx

03/17/2020 16:14:01 | 0 binh luận

Đột quỵ ở trẻ em thường hiếm gặp, trong đó nguyên nhân gây chảy máu nội sọ tự phát ở trẻ em thường do vỡ AVM. Chiếm khoảng 12% – 21% số ca có dị dạng động tĩnh mạch não [1], chảy máu sẽ gây nên tỉ lệ tử vong, di chứng thần kinh ở nhiều bệnh nhân. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh, vị trí, hình thái học của tổn thương ở trẻ em khác với người lớn, trong đó, chảy máu não tự phát do vỡ AVM ở trẻ em cao hơn người lớn, đặc biệt nguy cơ chảy máu cao với các ổ tổn thương AVM nhỏ, tĩnh mạch dẫn lưu đơn độc, vị trí ổ dị dạng quanh não thất, dưới lều và các tổn thương phối hợp như hẹp tĩnh mạch dẫn lưu, phình cuống mạch nuôi hoặc nidus [1]. Ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu điều trị DDĐTMN bằng nút mạch ở người lớn, tuy nhiên, số báo cáo về các trường hợp ở trẻ em vẫn còn hạn chế. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu 45 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị AVM não đã vỡ ở trẻ em tại Bệnh Viện Nhi Trung Ương. Chúng tôi phân tích đặc điểm lâm sàng, hình ảnh và đánh giá kết quả điều trị sớm AVM não bằng phương pháp nút mạch với Onyx.
Đánh giá hiệu quả điều trị trung hạn suy tĩnh mạch mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch

Đánh giá hiệu quả điều trị trung hạn suy tĩnh mạch mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch

03/17/2020 16:18:24 | 0 binh luận

Suy tĩnh mạch mạn tính (STMMT) là bệnh lý tiến triển chậm gây ra do sự suy giảm từ từ chức năng của van trong lòng các tĩnh mạch ở chi dưới, kèm theo sự giảm trương lực thành mạch dẫn tới giãn rộng không hồi phục các tĩnh mạch nông dưới da, gây ra tình trạng thoát dịch vào khoảng gian bào ngoài mạch máu, tạo nên phổ biểu hiện lâm sàng đa dạng từ không triệu chứng đến mỏi chân, tê bì, các mạch máu nhỏ giãn đến các mạch máu giãn lớn ngoằn ngoèo, phù nặng chân, gây rối loạn cảm giác, ngứa hoặc chàm cẳng chân, loét… khiến bệnh dễ nhầm lẫn với các bệnh lý với nhiều bệnh lý nội khoa khác như da liễu, thận, tim… Do đó bệnh thường bị che lấp hoặc bị bỏ qua cho đến khi muộn, ảnh hưởng đến khả năng đi lại, sinh hoạt hằng ngày và chất lượng cuộc sống. Điều trị suy tĩnh mạch bao gồm điều trị nội khoa bảo tồn và can thiệp phẫu thuật. Việc lựa chọn phương pháp điều trị suy tĩnh mạch không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng và giai đoạn bệnh mà còn bản thân người bệnh. Các hiệp hội về tĩnh mạch trên thế giới đã thay đổi ưu tiên lựa chọn phương pháp can thiệp nội mạch hơn phẫu thuật với các trường hợp suy tĩnh mạch mạn tính từ giai đoạn 2 (theo CEAP) trở lên (bằng chứng y học phân loại 1B). Ở Việt Nam, các trung tâm tim mạch lớn đều đã bắt đầu triển khai can thiệp nội mạch thay thế phẫu thuật thắt cao và lột bỏ tĩnh mạch để điều trị cho bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính có triệu chứng, trong đó phải kể đến trung tâm điện quang của bệnh viện (BV) Bạch Mai. Cho đến nay chỉ mới có một số báo cáo về hiệu quả điều trị về phương pháp này tại Việt Nam với các bước sóng thấp. Do vậy nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả theo dõi 12 tháng sau điều trị suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới bằng phương pháp can thiệp nội mạch.
Bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp đốt sóng cao tần nhân lành tính tuyến giáp có triệu chứng

Bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp đốt sóng cao tần nhân lành tính tuyến giáp có triệu chứng

03/17/2020 16:32:47 | 0 binh luận

Bướu giáp nhân là bệnh lý nội tiết thường gặp thứ hai sau bệnh đái tháo đường. Tần suất bướu giáp nhân phát hiện trên siêu âm khoảng 19–67% , trong đó hơn 90% là bướu nhân lành tính [1]. Đa số bệnh nhân bị bướu giáp nhân không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ, một số ít bệnh nhân có bướu giáp lớn có thể có các triệu chứng chèn ép như đau, nuốt khó, khó thở, khàn tiếng. Lựa chọn điều trị bướu giáp nhân tùy thuộc vào nguy cơ ung thư, triệu chứng chèn ép và nhân giáp có tăng chức năng hay không. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bướu nhân tuyến giáp: nội khoa (làm giảm kích thước nhân tuy nhiên có nguy cơ rung nhĩ, giảm mật độ xương); phẫu thuật (khi nhân có ĐK > 4cm, gây triệu chứng chèn ép hoặc mất thẩm mỹ tuy nhiên có biến chứng suy cận giáp, tổn thương dây quặt ngược, suy giáp).. Từ năm 2002, phương pháp đốt sóng cao tần (RFA) nhân lành tính tuyến giáp được GS. Baek – Hàn Quốc nghiên cứu áp dụng thành công và ngày càng được phổ biến ở các nước trên thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan..), với ưu điểm xâm lấn tối thiểu, không để lại sẹo, ít biến chứng.

Từ T10/2016 đến T3/2017 Bệnh viện Bạch Mai là một trong những bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam áp dụng thành công phương pháp RFA nhân lành tính tuyến giáp có triệu chứng, bước đầu ghi nhận được những kết quả hết sức khả quan.

Đánh giá kết quả điều trị nút mạch hóa dầu kết hợp truyền CISPLATIN trong ung thư gan có huyết khối tĩnh mạch cửa

Đánh giá kết quả điều trị nút mạch hóa dầu kết hợp truyền CISPLATIN trong ung thư gan có huyết khối tĩnh mạch cửa

03/17/2020 16:39:48 | 0 binh luận

Ung thư biểu mô tế bào gan là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng thứ 3 trên thế giới [1]. Xâm lấn tĩnh mạch cửa trong ung thư biểu mô tế bào gan thường gặp ở giai đoạn tiến triển và có tiên lượng rất xấu, thời gian sống thêm chỉ từ 2,7-4 tháng [2], [3]. Huyết khối tĩnh mạch cửa liên quan đến chức năng gan kém, sự xâm lấn của khối u, kém đáp ứng với hóa chất và các nguy cơ do tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở các bệnh nhân ung thư gan, do đó chỉ định của các phương pháp điều trị khá hạn chế. Theo hướng dẫn điều trị ung thư gan của Bộ Y Tế, BN ung thư gan có huyết khối tĩnh mạch cửa ít nhất thuộc phân loại Barcelona C, điều trị sorafenid. Theo BCLC, EASL, APASL huyết khối tĩnh mạch cửa là chống chỉ định của phẫu thuật cắt gan và nút mạch hóa chất qua đường động mạch gan (TACE), chỉ còn sorafenid là phương pháp điều trị được khuyến cáo [4], [5], [6]. Tuy nhiên theo nhiều nghiên cứu và báo cáo trên thế giới, các phương pháp điều trị như nút mạch gan bằng hóa chất (TACE), truyền hóa chất qua đường động mạch gan cũng có độ an toàn và hiệu quả, giúp cải thiện thời gian sống thêm [7], [8]. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên 24 bệnh nhân ung thư gan giai đoạn tiến triển có huyết khối tĩnh mạch cửa, điều trị bằng nút mạch hóa dầu kết hợp truyền Cisplatin với mục đích đánh giá mức độ an toàn và thời gian sống thêm.
Kết quả phương pháp tạo hình đốt sống ngực qua da ở những bệnh nhân xẹp cấp thân đốt sống do loãng xương

Kết quả phương pháp tạo hình đốt sống ngực qua da ở những bệnh nhân xẹp cấp thân đốt sống do loãng xương

03/17/2020 16:51:05 | 0 binh luận

Xẹp đốt sống cấp do loãng xương là sự giảm từ 20% trở lên chiều cao tường trước, tường giữa hoặc tường sau so với đốt sống lành lân cận ởbệnh nhân loãng xương, trên CHT thân đốt sống giảm tín hiệu trên T1W, tăng tín hiệu trên T2W, STIR [1]. THĐSQD là một phương pháp mới xâm lấn tối thiểu, được thực hiện lần đầu tiên tại Pháp vào năm 1984. Hiện nay kĩ thuật này được áp dụng ngày càng nhiều trong điều trị xẹp đốt sống có phù tuỷ xương. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy đây là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị xẹp cấp thân đốt nói chung. Tuy nhiên với các đốt sống ngực cóchút khác biệt với đốt sống thắt lưng bởi vì chúng phải chịu một lực ít hơn do có hệ thống xương sườn và xương ức, từ thấp lên cao các đốt sống có kích thước cuống sống và thân đốt sống nhỏ dần, góc tiếp cận thay đổi do gù cột sống và nguy cơ tràn khí màng phổi [2]. Nghiên cứu năm 2002 của Kallmes trên 75 đốt sống ngực cho thấy sau can thiệp điểm VAS giảm mạnh từ 9,7 xuống 1,7 tuy nhiên 1,3% trường hợp bị gãy cuống sống do dùng kim 13G 1,3% bị nhiễm khuẩn tại chỗ chọc [2]. Cho tới nay ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu hiệu quả với riêng các đốt sống ngực vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả và tai biến của THĐSQD với các đốt sống ngực.
Đánh giá kết quả điều trị tiêm xơ dị dạng tĩnh mạch dưới hướng dẫn DSA

Đánh giá kết quả điều trị tiêm xơ dị dạng tĩnh mạch dưới hướng dẫn DSA

03/17/2020 16:57:22 | 0 binh luận

Dị dạng tĩnh mạch là một loại dị dạng mạch máu hay gặp.Một dị dạng tĩnh mạch được định nghĩa là dị dạng đơn thuần có dòng chảy thấp và mạng lưới tĩnh mạch bất thường, không có van [1]. Dị dạng tĩnh mạch xuất hiện từ thời kỳ sơ sinh do sự phát triển bất thường từ thời kỳ bào thai và các triệu chứng phụ thuộc vào kích thước và vị trí liên quan. Màu sắc da phụ thuộc vào độ sâu của tổn thương, từ không có màu tới màu tím [2]. Tiến triển tự nhiên thường tăng kích thước chậm và khá ổn định theo thời gian, hình thái và kích thước thay đổi theo tư thế, chèn ép vào các cơ quan lân cận gây đau và hạn chế vận động. Dị dạng tĩnh mạch có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, nhưng chủ yếu ở trong các mô mềm.Trong thập kỷ vừa qua, các chuyên gia về tĩnh mạch trên thế giới đã có những thống nhất về phân loại và chẩn đoán bằng siêu âm và cộng hưởng từ, tuy nhiên chỉ định và hiệu quả điều trị còn nhiều tranh cãi, trong đó quan trọng nhất là phương pháp tiêm xơ. Chỉ định điều trị có thể đặt ra khi có ảnh hưởng đến chức năng hoặc ảnh hưởng thẩm mỹ [3].

Tiêm xơ là phương pháp tiêm một chất gây kích ứng, là phương pháp đầu tay cho điều trị dị dạng tĩnh mạch, trong đó, cồn tuyệt đối là chất được sử dụng phổ biến trong tiêm xơ qua da. Các biến chứng tại chỗ như hoại tử da loét hay tổn thương thần kinh cũng được nhắc đến.Từ sau khi sử dụng polidocanol (Lauromacron 400), các dị dạng tĩnh mạch được điều trị nhiều hơn, giảm thiểu các biến chứng [3]. Cùng với sự phát triển của chụp mạch số hoá xoá nền và phân loại dị dạng tĩnh mạch của Puig năm 2003 [4], càng ngày càng có nhiều báo cáo trên thế giới đánh giá hiệu quả của phương pháp tiêm xơ dưới hướng dẫn máy chụp mạch. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện chưa có báo cáo nào về phương pháp điều trị này. Do vậy, báo cáo này được thực hiện nhằm mục đích mô tả các đặc điểm về hình ảnh chụp mạch của các dị dạng tĩnh mạch và kết quả điều trị bằng phương pháp tiêm xơ tại trung tâm điện quang, bệnh viện Bạch Mai.

đăng ký miễn phí

Sự kiện sắp diễn ra

H2

Đơn vị hợp tác